Quy trình lập kế hoạch chất lượng – Kỳ 6

Tác giả: John F. Early và O. John Coletti

Người dịch: Hoàng Xuân Thịnh

BƯỚC 4: PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM

Nội dung bước 4:

Nhóm các nhu cầu khách hàng có liên quan lại với nhau

Xác định các phương pháp để định danh các đặc tính của sản phẩm

Tiêu chuẩn, quy định và chính sách

Tiêu chuẩn thiết kế

Tiêu chuẩn thiết lập các mục tiêu đặc tính của sản phẩm

Đo lường các mục tiêu đặc tính của sản phẩm

Phát triển các đặc tính và mục tiêu chi tiết của sản phẩm

Tối ưu hóa các đặc tính và mục tiêu đặc tính của sản phẩm

Thiết lập và đề xuất lần cuối bản thiết kế sản phẩm

Sau khi khách hàng và các nhu cầu của họ đã được hiểu đầy đủ thì ta có thể bắt tay vào việc thiết kế sản phẩm đáp ứng tốt nhất các nhu cầu đó. Phát triển sản phẩm không phải là một chức năng mới của công ty. Phần lớn các công ty đều có các quy trình để thiết kế và đưa sản phẩm ra thị trường. Trong bước này của quy trình lập kế hoạch chất lượng, chúng ta sẽ tập trung vào vai trò của chất lượng khi phát triển sản phẩm và cách thức kết hợp vai trò này với các công việc chuyên môn  trong một ngành công nghiệp cụ thể. Khi phát triển sản phẩm thì khâu thiết kế là khâu sáng tạo chủ yếu dựa trên hiểu biết của các chuyên gia công nghệ.

Các nhà thiết kế sản phẩm, theo truyền thống gồm có các kỹ sư, các nhà phân tích hệ thống, các nhà quản lý điều hành và nhiều chuyên gia khác nữa. Trên quan điểm chất lượng, các nhà thiết kế có thể bao hàm bất cứ ai có kinh nghiệm, vị trí có thể đóng góp vào quy trình thiết kế. Đầu ra của quy trình thiết kế là các bản thiết kế chi tiết, các mô hình (models), các thủ tục, đặc tả… Mục tiêu chất lượng tổng thể của bước này gồm:

  1. Xác định đặc tính nào, mục tiêu đặc tính nào của sản phẩm sẽ cung cấp lợi ích tối ưu cho khách hàng.
  2. Xác định những gì cần làm sao cho bản thiết kế sản phẩm được chuyển giao mà không có khiếm khuyết.

Trong trường hợp thiết kế sản phẩm dịch vụ, phạm vi của hoạt động dịch vụ đôi khi khó xác định. Ví dụ, đối với dịch vụ chăm sóc sức khỏe, đâu là nơi hoạt động chẩn đoán và xử lý kết thúc, và hoạt động xét nghiệm, kiểm tra số liệu bắt đầu? Một cách thông thường để nhận diện sản phẩm là “gặp mặt khách hàng” (face to the customer). Sản phẩm là những gì khách hàng thấy và trải nghiệm. Bệnh nhân thấy và trải nghiệm các cuộc gặp gỡ với bác sỹ, độ dài của thời gian chờ đợi, sự sáng tỏ của thông tin điều trị… Việc di chuyển hiệu quả các mẫu máu quanh phòng xét nghiệm cũng có tác dụng lên các đặc tính của các sản phẩm trên nhưng tác dụng thật sự là từ quy trình chuyển giao sản phẩm cuối cùng tới tay khách hàng.

Dưới đây là 6 hoạt động chính của bước phát triển sản phẩm.

NHÓM CÁC NHU CẦU KHÁCH HÀNG CÓ LIÊN QUAN LẠI VỚI NHAU (GROUP TOGETHER RELATED CUSTOMER NEEDS)

Phần lớn các dự án lập kế hoạch chất lượng đều phải xử lý một số lượng lớn nhu cầu khách hàng. Để dễ nắm bắt vấn đề, nhóm dự án có thể xếp thứ tự ưu tiên và nhóm các nhu cầu có liên quan thành một chức năng. Hoạt động này không đòi hỏi nhiều thời gian, nhưng nó giúp tiết kiệm nhiều thời gian sau này. Xếp thứ tự ưu tiên đảm bảo nguồn lực quý báu của nhóm phát triển được ưu tiên dành cho những chức năng nào của sản phẩm mang lại hiệu quả cao nhất đối với khách hàng. Nhóm các nhu cầu có liên quan lại với nhau cũng tạo điều kiện để nhóm thực hiện nguyên tắc “chia để trị”, bởi lẽ nhóm dự án bao gồm nhiều nhóm nhỏ làm việc trên những component (thành phần) khác nhau của bản thiết kế (design). Chia nhóm dự án thành các nhóm nhỏ hoặc cách tiếp cận theo kiểu component đối với việc thiết kế, tất nhiên đã được thực hiện từ nhiều năm qua. Điều khác biệt ở đây là, ngay từ đầu định hướng tập trung là components của nhu cầu khách hàng, chứ không phải là components của sản phẩm (components of the customers’ needs, not the components of the product). Bản thiết kế thành phần (component design) của sản phẩm sẽ được thực hiện trong các hoạt động sau của bước này.

XÁC ĐỊNH CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐỂ ĐỊNH DANH CÁC ĐẶC TÍNH CỦA SẢN PHẨM  (DETERMINE METHODS FOR IDENTIFYING PRODUCT FEATURES)

nhiều cách tiếp cận bổ sung để xác định bản thiết kế tốt nhất của sản phẩm đáp ứng nhu cầu khách hàng. Hầu hết các dự án thiết kế không sử dụng tất cả các tiếp cận này. Trước khi bắt tay vào thiết kế, nhóm dự án cần xây dựng một bản kế hoạch về các phương pháp sẽ được sử dụng trong các thiết kế của họ. Dưới đây là một số lựa chọn.

So sánh chuẩn (benchmarking). Cách này xác định sản phẩm tốt nhất trong số các sản phẩm tương tự và phương pháp ẩn đằng sau được dùng sản xuất sản phẩm đó. Xem chi tiết trong Bài 12 – So sánh chuẩn.

Nghiên cứu cơ bản (Basic Research). Nghiên cứu của tổ chức nhằm tạo ra một sự đổi mới của sản phẩm mà sản phẩm này hiện không còn tồn tại trên thị trường hoặc không còn tồn tại trong cái nhìn của đối thủ cạnh tranh. Nghiên cứu cơ bản cũng giúp đánh giá sự khả thi của sản phẩm và các đặc tính của sản phẩm. Cả hai khía cạnh này của nghiên cứu cơ bản đều quan trọng, chúng dè chừng trước sự quyến rũ tập trung vào các khía cạnh công nghệ của sản phẩm mà bỏ qua sự quan tâm chính là lợi ích của khách hàng.

Các thử nghiệm trên thị trường (Market Experiments). Giới thiệu và kiểm tra các ý tưởng về đặc tính của sản phẩm ngay trên thị trường cũng cho phép bạn phân tích và đánh giá các ý tưởng. Focus group là một kỹ thuật có thể được dùng để đo lường phản ứng của khách hàng và xác định liệu các đặc tính của sản phẩm hiện tại có đáp ứng nhu cầu khách hàng hay không. Một số tổ chức cũng cố gắng thử nghiệm các ý tưởng của họ, trên một cơ sở không chính thức với khách hàng trong các triển lãm thương mại và các hội nghị hợp tác.

TIÊU CHUẨN, QUY ĐỊNH VÀ CHÍNH SÁCH (STANDARDS, REGULATIONS, AND POLICIES)

Đây cũng là thời điểm mà tất cả các tiêu chuẩn, quy định và chính sách liên quan – được gọi chung là các yêu cầu – cần phải được định danh. Theo đó, một số trong các yêu cầu là hướng dẫn về cách thức có thể thi công một sản phẩm đặc thù hoặc một đặc tính sản phẩm, số khác là hướng dẫn bắt buộc cách thức thi công một sản phẩm. Các yêu cầu đó có thể do chính tổ chức đề ra, hoặc do chính quyền đề ra, hoặc cũng có thể do hiệp hội nghề nghiệp quy định… Tất cả các đặc tính sản phẩm và mục tiêu đặc tính sản phẩm (product feature goals) cần phải được phân tích căn cứ trên các yêu cầu đó trước khi quyết định lần cuối sẽ lựa chọn đặc tính sản phẩm nào được đưa vào bản thiết kế.

Cần lưu ý là nếu xuất hiện sự xung đột khi đánh giá các đặc tính của sản phẩm căn cứ các yêu cầu trên thì đó không phải là lý do để từ bỏ đặc tính đó. Đôi khi, tổ chức cho rằng đặc tính đó sẽ đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách hàng thì họ có thể vận động thay đổi yêu cầu gây xung đột. Nếu đó là yêu cầu từ nội bộ tổ chức thì sự vận động sẽ thuận lợi hơn, nhưng trong mọi trường hợp cần chuẩn bị kỹ dữ liệu dùng cho sự vận động đó.

TIÊU CHUẨN THIẾT KẾ (CRITERIA FOR DESIGN)

Là một phần của sự chuẩn bị cho việc thiết kế mức cao sau này, nhóm thiết kế cần phải thỏa thuận tiêu chuẩn rõ ràng được sử dụng để đánh giá các thiết kế ứng cử viên và các đặc tính cần thiết của bản thiết kế. Mọi bản thiết kế cần phải đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn chung sau:

  • Đáp ứng nhu cầu khách hàng
  • Đáp ứng nhu cầu của nhà cung cấp và nhu cầu nhà sản xuất.
  • Đáp ứng (hoặc đánh bại) sự cạnh tranh.
  • Tối ưu hóa các chi phí kết hợp giữa khách hàng và nhà cung cấp.

Ngoài bốn tiêu chuẩn trên, nhóm dự án còn phải thỏa thuận về tiêu chuẩn được sử dụng để thực hiện sự lựa chọn. (Nếu sự lựa chọn khá phức tạp thì nhóm cần phải cân nhắc sử dụng thủ tục hình thức về một ma trận lựa chọn). Một trong các nguồn hình thành tiêu chuẩn là báo cáo sứ mệnh của dự án và mục tiêu dự án. Một số tiêu chuẩn mà nhóm phải xây dựng thêm là:

  • Ảnh hưởng của đặc tính đến nhu cầu.
  • Tầm quan trọng tương đối của các nhu cầu đang được phục vụ.
  • Tầm quan trọng tương đối của khách hàng – những người có nhu cầu bị ảnh hưởng.
  • Sự khả thi và rủi ro của nhu cầu được đề xuất.
  • Ảnh hưởng đến chi phí sản xuất sản phẩm.
  • Mối quan hệ với các đặc tính cạnh tranh không tính đến trong so sánh chuẩn.
  • Các yêu cầu của tiêu chuẩn, chính sách, quy định…

Là một phần của việc ra quyết định về cách thực hiện bản thiết kế, nhóm cũng phải cân nhắc một số chi tiết quan trọng liên quan đến kiểu đặc tính sản phẩm nào (what type of product feature) sẽ  đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng. Khi lựa chọn các đặc tính của sản phẩm, họ phải cân nhắc liệu có cần:

  • Phát triển một chức năng hoàn toàn mới.
  • Thay thế các đặc tính cũ được chọn bằng các đặc tính mới.
  • Cải tiến hoặc chỉnh sửa các đặc tính hiện có.
  • Loại bỏ sự không cần thiết.

Các quy định và tiêu chuẩn của Ford Mustang (Regulations and Standards of Ford Mustang). Tất nhiên, bộ Tiêu chuẩn liên bang về an toàn động cơ ô tô (Federal Motor Vehicle Safety Standards) là mối quan tâm chính của các kỹ sư khi thiết kế bất kỳ chiếc ô tô nào. Ford đã thiết lập tiêu chuẩn an toàn của riêng họ, tiêu chuẩn này còn mở rộng hơn tiêu chuẩn của liên bang và còn được định lượng nữa.

Lựa chọn các đặc tính sản phẩm và các mục tiêu đặc tính sản phẩm cấp cao (Select the High-Level Product Features and Goals). Giai đoạn này của quy trình lập kế hoạch chất lượng thúc đẩy nhóm dự án cân nhắc suy nghĩ về một loạt các đặc tính tiềm tàng của sản phẩm và cách mỗi đặc tính đó đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Hoạt động này cần được thực hiện mà không bị ràng buộc bởi các giả định cho trước như đối với những gì đã được thực hiện hoặc chưa được thực hiện trong quá khứ. Một cách đáp ứng nhu cầu của khách hàng mà trước đây đã bị loại bỏ vẫn có thể được cân nhắc lại do sự thay đổi của công nghệ hoặc sự thay đổi của thị trường.

Nhóm bắt đầu thực hiện kế hoạch bằng việc xác định tất cả các đặc tính có thể có của sản phẩm. Cần phải áp dụng các tiêu chuẩn lựa chọn rõ ràng để xác định các đặc tính sản phẩm triển vọng nhất.

Tiếp theo nhóm phải xác định mục tiêu cho mỗi đặc tính. Theo quan điểm chất lượng thì một mục tiêu (goal) là một chỉ tiêu chất lượng (quality target) định lượng và chỉ tiêu này có thể được xê dịch, được đàm phán, được thỏa thuận hoặc tự tổ chức đặt ra.

TIÊU CHUẨN THIẾT LẬP CÁC MỤC TIÊU ĐẶC TÍNH CỦA SẢN PHẨM  (CRITERIA FOR SETTING PRODUCT FEATURE GOALS)

Như đối với mọi mục tiêu, mục tiêu đặc tính của sản phẩm cần phải thoả mãn một số tiêu chuẩn. Các tiêu chuẩn để thiết lập mục tiêu đặc tính của sản phẩm khác không đáng kể so với tiêu chuẩn của mục tiêu dự án đã được đề ra trong Bước 1 của quy trình lập kế hoạch chất lượng (tiêu chuẩn SMART). Các mục tiêu đặc tính sản phẩm phải bao gồm tất cả các yếu tố quan trọng sau:

  • Có thể đo lường
  • Tối ưu
  • Phù hợp luật pháp
  • Dễ hiểu
  • Có khả năng ứng dụng
  • Có thể đạt được

ĐO LƯỜNG CÁC MỤC TIÊU ĐẶC TÍNH CỦA SẢN PHẨM (MEASURING PRODUCT FEATURE GOALS)

Để đáp ứng đòi hỏi đo lường mục tiêu đặc tính của sản phẩm thì cần thực hiện các công việc sau:

  • Xác định đơn vị đo: m, giây, ngày, phần trăm…
  • Xác định cách thức đo lường mục tiêu (nghĩa là xác định thiết bị đo).
  • Thiết lập giá trị (value) cho mục tiêu.

Các công việc đã thực hiện khi đo lường nhu cầu khách hàng cũng được dùng ở đây. Hai công việc này có thể có liên quan với nhau theo một trong những cách sau:

  • Đo lường nhu cầu và đo lường mục tiêu đặc tính sản phẩm có thể sử dụng cùng đơn vị đo và cùng thiết bị đo.
  • Đo lường đặc tính sản phẩm có thể được thừa hưởng về mặt kỹ thuật từ đo lường nhu cầu khách hàng.
  • Đo lường đặc tính sản phẩm có thể được suy ra từ mối quan hệ về mặt hành vi của khách hàng với đo lường đặc tính sản phẩm. Ví dụ, các nhà sản xuất ô tô đã xây dựng các tham số cụ thể về kích thước và cấu trúc của ghế ngồi ô tô được dịch (translate) từ nhu cầu của khách hàng là cần ghế ngồi “tiện nghi”.

Do giờ đây, chúng ta có thể đo lường được cả nhu cầu của khách hàng và các mục tiêu đặc tính sản phẩm liên quan nên nhóm lập kế hoạch chất lượng có thể đảm bảo thiết kế sẽ đáp ứng được nhu cầu khách hàng, thậm chí ngay từ trước khi sản xuất được một nguyên mẫu sản phẩm.

Đối với các dự án lớn và phức tạp, công việc phát triển các đặc tính của sản phẩm thường được chia cho nhiều nhóm nhỏ khác nhau. Sau khi tất cả các nhóm nhỏ đã hoàn thành công việc của họ, thì nhóm lập kế hoạch chất lượng tổng thể cần tích hợp tất cả kết quả và loại bỏ các xung đột nếu có.

PHÁT TRIỂN CÁC ĐẶC TÍNH VÀ MỤC TIÊU CHI TIẾT CỦA SẢN PHẨM (DEVELOP DETAILED PRODUCT FEATURES AND GOALS)

Đối với các sản phẩm lớn và có độ phức tạp cao (như ô tô), thì cần phải chia nhỏ sản phẩm thành một số components (thành phần) hay thậm chí subcomponents (thành phần con) để thiết kế chi tiết. Mỗi component đều có nhóm thiết kế riêng cho nó, nhóm này hoàn thành thiết kế chi tiết như mô tả dưới đây. Để đảm bảo thiết kế tổng thể sau khi tích hợp sẽ nhất quán và đáp ứng hiệu quả nhu cầu khách hàng, thì các dự án lớn, phi tập trung đòi hỏi:

  • Một nhóm hạt nhân tạo định hướng và hợp nhất kết quả của tất cả các nhóm khác.
  • Các sơ đồ rõ ràng với các mục tiêu được định lượng cho mỗi component.
  • Xem xét thường xuyên bản thiết kế được dùng tích hợp của mọi components.
  • Tích hợp tốt các thiết kế bộ phận trước khi kết thúc giai đoạn thiết kế sản phẩm.

Sau khi các đặc tính sản phẩm và mục tiêu đặc tính sản phẩm chi tiết đã được phát triển ở mức độ ban đầu, thì các nhà thiết kế chuẩn bị một bản thiết kế sơ bộ bao gồm các đặc tả chi tiết. Đó là bước cần thực hiện trước khi nhóm tối ưu hóa các mô hình về đặc tính của sản phẩm (models of product features) bằng cách sử dụng một số công cụ lập kế hoạch chất lượng và cuối cùng, đề xuất lần cuối bản mô tả về các đặc tính của sản phẩm và mục tiêu mỗi đặc tính.

TỐI ƯU HÓA CÁC ĐẶC TÍNH VÀ MỤC TIÊU ĐẶC TÍNH CỦA SẢN PHẨM (OPTIMIZE PRODUCT FEATURES AND GOALS)

Sau khi bản thiết kế sơ bộ đã được hoàn thành thì cần phải tối ưu hoá nó. Nghĩa là, bản thiết kế cần được điều chỉnh sao cho nó có thể đáp ứng được nhu cầu của cả khách hàng và nhà cung cấp trong khi vẫn tối thiểu hóa được các chi phí phát sinh, đáp ứng hoặc loại bỏ được sự cạnh tranh.

Tìm kiếm sự tối ưu là một công việc phức tạp trừ khi công việc được tiến hành theo một cách thức đã định từ trước và tuân thủ các nguyên tắc quản lý chất lượng. Ví dụ, có nhiều bản thiết kế mà trong đó nhiều biến cùng biến đối và tương tác với nhau, vì vậy cần phải chọn một tổ hợp của các biến sao cho có thể có được một kết quả cuối cùng chấp nhận được (ND nhấn mạnh). Một số bản thiết kế phản ánh các mối quan tâm về mặt nghiệp vụ (business), như bản thiết kế một hệ thống thông tin với mong muốn sử dụng tối ưu các thiết bị, con người, năng lượng, tiền vốn…  Một số bản thiết kế khác lại phản ánh các mối quan tâm về mặt kỹ thuật như sử dụng tối ưu hiệu năng của phần cứng.

Tìm kiếm sự tối ưu liên quan đến việc làm cân bằng các nhu cầu, mà các nhu cầu này lại đến từ vô số khách hàng khác nhau, gồm cả khách hàng bên trong và khách hàng bên ngoài (ND nhấn mạnh). Vì vậy, sự tối ưu chỉ có thể có khi việc tìm kiếm được thực hiện với sự tham gia của cả nhà cung cấp và khách hàng. Dưới đây là một số hướng dẫn về mặt kỹ thuật thực thi.

Soát xét thiết kế (Design Review). Theo cách này, tất cả những người sẽ bị ảnh hưởng bởi sản phẩm đều có cơ hội soát xét bản thiết kế của sản phẩm theo một quy trình đã định. Quy trình này cho phép họ sử dụng kinh nghiệm và kiến thức của mình để đánh giá bản thiết kế với mong muốn:

  • Cảnh báo sớm các vấn đề sắp tới.
  • Đóng góp số liệu cho việc tìm kiếm sự tối ưu.
  • Thách thức các lý thuyết và giả định thiết kế.

Soát xét thiết kế có thể được thực hiện trong các bước khác nhau của quy trình phát triển sản phẩm mới. Chúng có thể được dùng để xem xét các kết luận về nhu cầu của khách hàng và đặc tả của sản phẩm (là mô tả về các đặc tính về sản phẩm sau khi sản xuất). Các yêu cầu đối với việc soát xét thiết kế:

  • Sự tham gia của những người được chỉ định là bắt buộc.
  • Việc soát xét được định hướng bởi các chuyên gia không nằm trong nhóm lập kế hoạch.
  • Các quyết định cuối cùng về thay đổi do nhóm lập kế hoạch đưa ra.
  • Việc soát xét được lập lịch chính thức.
  • Việc soát xét căn cứ trên các tiêu chuẩn đã được thừa nhận và các tham số đã đưa ra từ trước.
  • Việc soát xét được tổ chức tại nhiều điểm dọc theo quy trình phát triển sản phẩm.

Các quy tắc cơ bản để tổ chức những buổi soát xét tốt:

  • Lập kế hoạch chuẩn bị đầy đủ lịch biểu và tài liệu soát xét.
  • Thành phần và vai trò trong mỗi cuộc họp được định nghĩa rõ ràng.
  • Thừa nhận ở lãnh đạo cấp cao là sự soát xét có thể mang lại xung đột nội bộ.
  • Nhấn mạnh vào tính xây dựng, không phải phê phán.
  • Tránh đưa vào buổi soát xét bản thiết kế cạnh tranh với bản thiết kế sẽ được soát xét.
  • Dành thời gian đủ cho cuộc họp soát xét.
  • Dành cho việc soát xét phương tiện và con người có đủ kỹ năng.
  • Tập trung thảo luận những ý tưởng thiết kế không được chứng minh hoặc chưa đạt tới mức chấp nhận được.
  • Có sự tham gia trực tiếp của cấp quản lý.

Lập kế hoạch chung (Joint Planning). Nhóm lập kế hoạch cần bao gồm tất cả những người có lợi ích liên quan đến kết quả sau cùng của việc lập kế hoạch và những người có kỹ năng trong thiết kế sản phẩm. Nhóm phải bao gồm những người làm thiết kế và không làm thiết kế nhưng có liên quan đến dự án, mới có thể chịu trách nhiệm về bản thiết kế cuối cùng.

Đàm phán có quy tắc (Structured Negotiation). Khách hàng và nhà cung cấp bị chi phối bởi những lợi ích cục bộ mạnh mẽ đòi hỏi nhanh chóng có được một bản thiết kế thay vì một bản thiết kế tối ưu. Để đảm bảo các phiên đàm phán sẽ được tiến hành theo một cách thức hiệu quả ở mức có thể thì cần thiết lập một số quy tắc nhất định trước khi các cuộc họp diễn ra. Dưới đây là một số ví dụ:

  • Nhóm cần được định hướng bởi tinh thần hợp tác, tránh cạnh tranh, vì một kết quả chung có lợi cho toàn tổ chức.
  • Sự khác biệt của các ý kiến là hoàn toàn lành mạnh và có thể dẫn tới giải pháp hiệu quả hơn.
  • Mọi người đều có cơ hội đóng góp và mọi ý kiến đều đáng cân nhắc.
  • Mọi ý kiến đều cần được nghe và tôn trọng mà không bị ngắt giữa chừng.
  • Tránh công kích cá nhân, mọi sự phản đối và đồng tình đều cần dựa trên mặt lợi ích của ý kiến trước khi nhìn vào mặt bất lợi của nó.
  • Không phỏng đoán, hãy nhìn vào các sự kiện.
  • Bất cứ khi nào cuộc thảo luận bị sa lầy, hãy quay trở lại và chỉ rõ phạm vi vấn đề đã đồng thuận trước khi thảo luận tiếp về phạm vi vấn đề chưa đồng thuận.
  • Nếu không đạt được sự đồng thuận về một chi tiết đã định thì cần quay trở lại thảo luận chi tiết đó sau.

Đề xuất các lựa chọn mới (Create New Options). Các nhóm thường hình thành một thiết kế sản phẩm với quan điểm bị quy định bởi các sự kiện đã diễn ra trong quá khứ của sản phẩm đó. Tối ưu hoá khuyến khích nhóm có một cái nhìn mới đối với sản phẩm và tạo ra những lựa chọn mới. Một số công cụ chất lượng thông thường nhất để tối ưu hoá thiết kế bao gồm:

Phân tích cạnh tranh (Competitive analysis) so sánh từng đặc tính một với sản phẩm của đối thủ cạnh tranh.

Phân tích khả năng bán hàng (Salability) đánh giá các đặc tính của sản phẩm có kích thích khách hàng mua hay không và giá cả nào mà họ mong muốn thanh toán.

Phân tích giá trị (Value analysis) tính toán không chỉ chi phí tăng thêm của các đặc tính cụ thể  của sản phẩm mà còn cả chi phí đáp ứng các nhu cầu cụ thể của khách hàng và so sánh với chi phí của các thiết kế thay thế (alternative designs).

Phân tích tới hạn (Criticality analysis) chỉ ra “một số ít đặc tính sống còn” (“vital few” features) là điểm yếu trong thiết kế để các đặc tính đó được ưu tiên về sự chú ý và ưu tiên về nguồn lực.

Phân tích hiệu ứng và kiểu sự cố (Failure mode and effect analysis, FMEA) tính toán ảnh hưởng kết hợp của xác suất xảy ra một sự cố cụ thể và xác suất sự cố đó được phát hịên và sửa chữa, vì vậy mà lập được một bảng xếp hạng ưu tiên (priority ranking) các thiết kế theo định hướng biện pháp phòng ngừa sự cố. (Xem Bài 19, mục Phân tích Độ tin cậy, cũng cần xem Bài 48).

Phân tích cây sai lỗi (Fault-tree analysis) hỗ trợ thiết kế các biện pháp ngăn ngừa bằng cách lần vết tất cả các kết hợp có thể có của các nguyên nhân dẫn tới một sự cố cụ thể. (Xem Bài 19, mục Phân tích Độ tin cậy, và xem Bài 48).

Thiết kế dùng cho sản xuất và lắp ráp sẽ đánh giá mức độ phức tạp và các vấn đề tiềm tàng sẽ xảy ra trong khi sản xuất để thực hiện lắp ráp sao cho đơn giản và ít lỗi ở mức có thể. Thiết kế cho việc bảo trì sẽ đánh giá các thiết kế về mặt dễ bảo trì và chi phí bảo trì thấp trong suốt vòng đời của sản phẩm.

THIẾT LẬP VÀ ĐỀ XUẤT LẦN CUỐI BẢN THIẾT KẾ SẢN PHẨM (SET AND PUBLISH THE FINAL PRODUCT DESIGN)

Sau khi bản thiết kế đã được tối ưu hoá và được kiểm thử, thì đây chính là thời điểm thích hợp để lựa chọn các đặc tính sản phẩm và các mục tiêu sẽ được đưa vào bản thiết kế cuối cùng. Đây cũng là lúc các kết quả của việc phát triển sản phẩm sẽ được chuyển giao chính thức cho các bộ phận chức năng khác thông qua các tài liệu khác nhau. Các tài liệu này bao gồm đặc tả về các đặc tính của sản phẩm (product features) và các mục tiêu đặc tính của sản phẩm (product feature goals), các bảng tính và các tài liệu hỗ trợ khác.

(Hết Bước 4, còn tiếp)

11/7/2009

Advertisements

Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Filed under Quản lý chất lượng

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s