Chiếm lĩnh gia tài tinh thần của con người – Kỳ 3

Hoàng Xuân Thịnh

3. Chiếm lĩnh khái niệm là chiếm lĩnh quy trình hình thành khái niệm

Để sáng tỏ ý chiếm lĩnh khái niệm là chiếm lĩnh quy trình hình thành khái niệm thì có thể lấy ví dụ từ Quy trình Lập kế hoạch Chất lượng. Quy trình này, nếu định danh một cách đầy đủ, thì phải được gọi là “Quy trình lập kế hoạch phát triển sản phẩm có chất lượng”, vì chất lượng không tự nó tồn tại nếu không thể hiện thông qua một sản phẩm cụ thể, cách gọi tắt “Quy trình lập kế hoạch chất lượng” dễ gây sự khó hiểu. Trong đó từ “sản phẩm” được hiểu là cả sản phẩm hữu hình và sản phẩm vô hình – tức dịch vụ. Khái niệm cần chiếm lĩnh ở đây là khái niệm “sản phẩm có chất lượng”. Có hàng triệu triệu loại sản phẩm khác nhau, mỗi loại lại có những cách thức phát triển khác nhau mà chỉ chuyên gia trong cuộc mới nắm được, thế thì sẽ không thể thực hiện được “Quy trình lập kế hoạch phát triển sản phẩm có chất lượng” nếu thiếu hiểu biết chuyên môn về sản phẩm cụ thể. Nhưng để triệu triệu loại sản phẩm khác nhau đó đạt chất lượng thì tất cả đều có thể được phát triển thông qua một quy trình chung mà chúng ta đang thảo luận với các bước sau:

Hai giai đoạn của quy trình

Các bước của quy trình

Trước hết, xác định trong tư duy CÁI cần làm – CÁI được kỳ vọng, tức là SẢN PHẨM CÓ CHẤT LƯỢNG, CÁI này phải đáp ứng cho một mục đích nào đó rất cụ thể. Bước 1: Lập dự án phát triển sản phẩm
Bước 2: Xác định khách hàng của sản phẩm
Bước 3: Khám phá nhu cầu của khách hàng
Bước 4: Phát triển sản phẩm phù hợp nhu cầu
Tiếp theo, xác định CÁCH – chính là QUY TRÌNH làm ra CÁI đó, kiểm soát được CÁCH thì chắc chắn sẽ có CÁI được kỳ vọng. Bước 5: Phát triển quy trình làm ra sản phẩm
Bước 6: Phát triển các kiểm soát quy trình và chuyển giao quy trình cho lực lượng sản xuất

Trình độ phát triển sản phẩm thể hiện ở khả năng kiểm soát quy trình phát triển sản phẩm

Trong hai yếu tố, CÁI được làm ra và CÁCH làm ra CÁI đó, thì CÁCH mới là yếu tố quyết định. “Các thời đại kinh tế khác nhau không phải ở chỗ chúng sản xuất ra cái gì, mà ở chỗ chúng sản xuất bằng cách nào, với những tư liệu lao động nào.” (Karl Marx – Tư bản luận). Thật vậy, bây giờ và cách đây cả 1500 năm người ta đều phải nuôi gà – tức sản xuất thịt gà. Xưa kia nuôi trong vườn nhà, cứ để thả rông, gà chạy đâu thì chạy, bới được cái gì cũng ăn, chủ nhà chả cần biết chữ nào cũng có thể nuôi gà. Ngày nay, nuôi gà trong trang trại quy mô lớn đầu tư hàng chục tỷ đồng, có máy quạt gió kiểm soát nhiệt độ, máy đo độ ẩm, máy trộn thức ăn và cho gà ăn, quy trình kiểm soát thú y – chính vì mật độ tập trung lớn mà gà có nguy cơ nhiễm bệnh cao, trên hết chủ trang trại phải có chữ để học cách nuôi gà, thậm  chí phải có chuyên môn riêng chỉ về nuôi gà. Nếu không thế thì chỉ một đợt cúm gà là hàng chục tỷ đồng một đi không trở lại. Cách nuôi gà xưa kia là cách sản xuất của thời đại kinh tế nông nghiệp, cách nuôi gà hiện nay là cách sản xuất của thời đại kinh tế công nghiệp hướng tri thức- nông nghiệp trở thành nông nghiệp công nghệ cao. Cách nuôi sau mang tính KIỂM SOÁT hơn cách nuôi trước – kiểm soát trên cơ sở tập tính của chính đối tượng sản xuất, tức con gà. Xưa kia, ông chủ nhà cũng phải kiểm soát “quy trình” nuôi gà, dù rất thô sơ – ví như ông ta chỉ dựng lên một hàng rào bao quanh khu đất nhà mình để gà khỏi chạy rông sang vườn nhà ông hàng xóm mà thôi. Khả năng kiểm soát các yếu tố của quy trình phát triển sản phẩm phản ánh trình độ phát triển sản xuất nói chung, đây là hàm ý của Bước 6 – Phát triển các kiểm soát quy trình và chuyển giao quy trình cho lực lượng sản xuất.

Tri thức dùng làm gì?

Đọc sách báo thấy các nhà khoa học, có thể cả các nhà triết học nữa bàn về mục đích của khoa học. Tựu trung lại có hai luồng ý kiến, (1) mục đích của khoa học là tìm ra chân lý, (2) mục đích của khoa học là “giải quyết vấn đề”. Là người thuộc về số đông phải vật lộn với cuộc sống hàng ngày nên tôi đồng cảm hơn với ý thứ hai, tuy nhiên tôi không hề phản bác ý thứ nhất – cần phải có một số ít tinh hoa của loài người giải quyết những vấn đề “trừu tượng” đó vì lợi ích tương lai, có thể là còn rất xa, của nhân loại nói chung.

Mọi quá trình phát triển nhằm đạt được một mục đích đã định đều phải “tiêu dùng” các đầu vào: tiền bạc, thời gian, sức người, nguyên vật liệu, năng lượng… Vai trò của tri thức, tôi nghĩ đối với đại đa số con người bình thường, chỉ là một này thôi: làm thế nào để tôi có thể đạt được mục đích đã định mà tốn ít nhất tiền bạc, thời gian, năng lượng, sức người… Như thế, tri thức cũng là một đầu vào như mọi đầu vào khác, nó đóng vai trò sắp xếp, tổng hợp các đầu vào khác để có được một cáu trúc mới hoặc cấu trúc đã có nhưng hiệu quả tổng hợp là tối ưu theo một nghĩa nào đó. Thật vậy, con chip (microprocessor) cũng chỉ là một cấu trúc – một sự sắp xếp theo một trật tự nào đó của một số kim loại và chất bán dẫn mà thôi. Nhưng để tìm ra được cách sắp xếp đó trong vô vàn cách sắp xếp khác nhau thì cần tri thức. Nếu tôi không thể sản xuất được con chip tiêu thụ ít năng lượng hơn so với người bên cạnh thì đó là vấn đề của tôi và tôi cần khoa học để giúp tôi “giải quyết vấn đề” này, và cách giải quyết vấn đề phải được thiết kế trên chính các thuộc tính của các kim loại và chất bán dẫn hợp thành con chip. Cách giải quyết vấn đề được đưa vào quy trình sản xuất, hay một cách tổng quát, chính những cách giải quyết vấn đề hợp thành quy trình sản xuất, đó là hàm ý của Bước 5 – Phát triển quy trình làm ra sản phẩm.

Tri thức kinh nghiệm và tri thức khoa học

Các lĩnh vực trong thực tế là vô cùng đa dạng, vì vậy không thể nói có tri thức một cách chung nhất mà chỉ có thể nói là có tri thức trong một lĩnh vực gì đó mà thôi. Một cách ngắn gọn và thiết thực, cứ ai làm ra được một cái gì đó đáp ứng được một nhu cầu cụ thể thì chứng tỏ người đó có tri thức về cái đó. Nếu người ta không thể lý giải tại sao mình làm ra được cái đó, mà vẫn làm ra được, thì tri thức đó là tri thức kinh nghiệm. Nếu lý giải được tại sao mình làm ra được, tại sao mình lại làm như thế, tại sao mình lại làm theo thứ tự này,… thì tri thức đó là tri thức khoa học – hay tri thức khái niệm. Sự lý giải ban đầu chỉ là cảm tính, sau đó sự lý giải được hỗ trợ bằng các con số, bằng chứng, chứng minh – công việc của khoa học chính là tìm ra những thứ này. Thật vậy, bà con ta làm nông nghiệp cách đây cả vài trăm năm đã biết:

“Lúa chiêm lấp ló đầu bờ

Hễ nghe sấm dậy phất cờ mà lên.”

Nhưng thử hỏi tại sao lại thế thì chắc bà con chịu không biết – tri thức của bà con là tri thức kinh nghiệm! Chỉ đến khi hoá học nông nghiệp phát triển, các nhà hóa học mới cho biết là mưa rào đầu mùa hè sấm, chớp rất to sẽ tạo ra nitơ-ôxít trong không khí và theo nước mưa xuống ruộng thành phân nitơ, lúa được bón phân thì “phất cờ mà lên” thôi. Chả riêng gì lúa, bạn cứ để ý sẽ thấy ruộng rau muống khi gặp cơn mưa rào đầu mùa thì chỉ sau một đêm cũng trổ dài xanh nõn. Nếu đã biết tại sao như thế thì giờ đây người ta chủ động tạo ra phân nitơ và bà con có thể chủ động bón phân nitơ cho lúa, cho rau mà không cần đợi mưa rào nữa. Ít nhất tri thức khoa học này cũng giúp bà con chủ động hơn trong quy trình trồng lúa – hay nói cách khác là kiểm soát tốt hơn quy trình trồng lúa – nên bón phân gì và khi nào thì bón, mà bớt phụ thuộc vào thiên nhiên.

Tri thức khoa học là tri thức khái niệm. Nói đến khái niệm về một đối tượng, ví dụ đối tượng là sản phẩm có chất lượng, là nói đến quá trình được kiểm soát hay là quy trình hình thành nên đối tượng đó – chiếm lĩnh khái niệm chính là chiếm lĩnh quy trình này. Quy trình này là quá trình thể hiện sự biến đổi của đối tượng từ trừu tượng đến cụ thể theo cái lý nội tại (logic) của nó. Tìm ra cái lý này và tìm cách kiểm soát nó là công việc của các nhà khoa học. Trải cái lý này ra thành một quy trình được kiểm soát nhằm có được đối tượng mong muốn trong giới hạn có thể chấp nhận về mặt kinh tế, tài chính, xã hội, luật pháp, đạo đức… đối với hầu hết mọi người là công việc của các nhà công nghệ, các nhà chính trị, các doanh nghiệp,… Ví dụ, việc sinh đẻ của con người từ thượng cổ đến gần đây vẫn là “trời cho sao thì biết vậy” – ai có con, con sinh ra như thế nào được coi như lộc của trời. Chỉ đến khi khoa học nghiên cứu và kiểm soát được quá trình từ khi tinh trùng gặp trứng, trứng được thụ tinh – chính là một đứa trẻ vẫn còn dưới dạng trừu tượng, sau 9 tháng 10 ngày thì trở thành một đứa trẻ cụ thể và ra đời, thì con người mới có được công nghệ sinh đẻ. Bằng chứng ư? Trên thế giới việc mang thai hộ đã được nhiều quốc gia thừa nhận về mặt luật pháp và được các bệnh viện thực hiện. Còn ở Việt Nam thì giờ đây cặp vợ chồng nào khó thụ thai cứ việc đến bệnh viện Từ Dũ để các bác sỹ thụ thai trong ống nghiệm – cơ thể người mẹ nhân tạo, sau đó đưa trứng đã được thụ thai vào cơ thể của người mẹ thật và đứa trẻ vẫn ra đời khỏe mạnh, bình thường. Việc sinh đẻ đã được con người kiểm soát trên thực tế và nhờ vậy mà trở thành công nghệ sinh đẻ. Một ví dụ khác, để đảm bảo sức khoẻ tốt nhất có thể của đứa trẻ sau khi sinh ra thì giai đoạn phát triển từ trứng được thụ tinh thành đứa trẻ cụ thể trong cơ thể người mẹ đã được kiểm soát ít nhiều về mặt khoa học để làm cơ sở – tất nhiên còn nhiều cơ sở khác nữa, hình thành công nghệ gien – mà một trong số các mục tiêu báo chí hay nhắc tới mỗi khi nhắc đến công nghệ gien là loại bỏ những gien xấu, ví dụ gien gây ung thư, ngay khi đứa trẻ vẫn còn trong bụng mẹ, để đứa trẻ ra đời và lớn lên thành một con người khỏe mạnh nhất có thể. Công nghệ gien, nói theo ngôn ngữ của khái niệm, thì hiện vẫn còn dưới dạng trừu tượng, nó chưa trở thành cụ thể như công nghệ sinh đẻ.

Theo Karl Marx, con người chỉ có hai việc thôi, thứ nhất là làm thế nào để sống và sống tốt hơn – vì vậy mà phải sản xuất, kinh doanh, xây nhà, xây cửa, làm giáo dục, tổ chức xã hội… có vô vàn công nghệ cho mục đích này – mục đích sản xuất và phân phối của cải; thứ hai là làm thế nào để duy trì nòi giống, tức công nghệ sinh đẻ – mục đích là con người tự sản xuất ra chính mình. Mọi công nghệ đều lấy khái niệm khoa học làm cơ sở.

Vì vậy chiếm lĩnh gia tài tinh thần của con người chính là chiếm lĩnh gia tài khái niệm – tức là chiếm lĩnh cái cơ sở khoa học, xin nhấn mạnh chỉ là cơ sở khoa học thôi, cho hành động sản xuất, kinh doanh, phát triển, duy trì nòi giống của con người.

(Còn nữa)

07/08/2009

Advertisements

Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Filed under Các bài viết

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s