Chiếm lĩnh gia tài tinh thần của con người – Kỳ 7

Hoàng Xuân Thịnh

7. Chiếm lĩnh khái niệm là để có được Giải pháp nghiệp vụ

Tôi đã rất ấn tượng khi đọc một cuốn sách có thuật lại lời nói của người cha cố Tổng thống Mỹ John F. Kennedy, “Dòng họ nhà Kennedy dù làm bất cứ nghề gì, dù làm nghề móc cống hay làm nghề Tổng thống, thì cũng phải là người làm nghề giỏi nhất nước Mỹ.” Người Việt Nam cũng nói, “Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh” – dù rằng tinh thần này, do những biến động của lịch sử đã không còn được trân trọng. Nhưng cũng lại do sự đi tới của cuộc sống, tinh thần này chắc chắn sẽ phát triển. Vì sao? Vì người Việt Nam phải cạnh tranh với những người “nghệ tinh” khác trên toàn cầu, vì miếng cơm, manh áo đều từ đó mà ra.

Có nghề nghĩa là gì? Nghĩa là biết được nghề này làm ra sản phẩm gì và biết được công nghệ làm ra sản phẩm đó. Một công nghệ, như đã trình bày trong kỳ 5, bao gồm 3 yếu tố sau:

  • Một bộ công cụ (máy móc, thiết bị, phần mềm máy tính).
  • Thủ tục sử dụng mỗi công cụ và thứ tự sử dụng mỗi công cụ trên toàn bộ quy trình làm ra sản phẩm.
  • Kỹ năng nghề nghiệp của người sử dụng bộ công cụ.

Trong các yếu tố trên, nếu tạm không xét đến công cụ thì còn lại quy trình làm ra sản phẩm kỹ năng nghề nghiệp đọng lại trong mỗi cá nhân.

Để minh họa quy trình làm ra sản phẩm, tôi lấy ví dụ về một quy trình thiết kế và xây dựng cơ sở dữ liệu trong công nghệ thông tin như sau – đây chỉ hoàn toàn là ví dụ minh họa thế nào là một quy trình làm ra sản phẩm, bạn không cần hiểu những khái niệm được dùng dưới đây.

Bước

Nội dung của bước

Thiết kế CSDL mức ý tưởng
1 Xây dựng mô hình dữ liệu ý tưởng cục bộ cho khung nhìn của mỗi người dùng

1.1

Định danh các kiểu entity

1.2

Định danh các kiểu relationship giữa các entities

1.3

Định danh các thuộc tính của mỗi kiểu entity và mỗi kiểu relationship

1.4

Xác định miền giá trị của mỗi thuộc tính

1.5

Xác định các thuộc tính khóa chính và khóa dự phòng

1.6

Đặc biệt hóa/khái quát hóa các kiểu entity (bước tùy chọn)

1.7

Vẽ sơ đồ Entity – Relationship

1.8

Soát xét mô hình dữ liệu ý tưởng cục bộ của mỗi người dùng
Thiết kế CSDL logic theo mô hình quan hệ
2 Xây dựng và hợp lý hóa mô hình dữ liệu logic cục bộ cho khung nhìn của mỗi người dùng

2.1

Biến đổi mô hình dữ liệu ý tưởng cục bộ thành mô hình dữ liệu logic cục bộ

2.2

Suy ra các relations từ mô hình dữ liệu cục bộ logic

2.3

Hợp lý hóa mô hình bằng chuẩn hóa

2.4

Hợp lý hóa mô hình dựa trên các giao dịch người dùng

2.5

Vẽ sơ đồ Entity – Relationship

2.6

Định nghĩa các ràng buộc toàn vẹn
3 Xây dựng và hợp lý hóa mô hình dữ liệu logic tổng thể

3.1

Hợp nhất các mô hình dữ liệu logic cục bộ thành mô hình tổng thể

3.2

Hợp lý hóa mô hình dữ liệu logic tổng thể

3.3

Đánh giá sự phát triển trong tương lai

3.4

Vẽ lần cuối sơ đồ Entity – Relationship

3.5

Soát xét mô hình dữ liệu logic tổng thể
Thiết kế CSDL vật lý theo mô hình quan hệ
4 Biến đổi mô hình dữ liệu logic tổng thể cho phù hợp Hệ quản trị CSDL (DBMS) mục tiêu

4.1

Thiết kế các relations chính cho DBMS mục tiêu

4.2

Thiết kế các ràng buộc kinh doanh cho DBMS mục tiêu
5 Thiết kế các biểu diễn vật lý

5.1

Phân tích các giao dịch

5.2

Chọn tổ chức tệp

5.3

Chọn indexes thứ cấp

5.4

Suy xét về sự dư thừa được kiểm soát

5.5

Ước lượng không gian lưu trữ cần thiết
6 Thiết kế các cơ chế an ninh

6.1

Thiết kế khung nhìn của người dùng

6.2

Thiết kế các quy tắc truy nhập dữ liệu
7 Giám sát và điều chỉnh hệ thống cơ sở dữ liệu vận hành trên thực tế

Quy trình làm ra cơ sở dữ liệu trên chỉ là sự phát triển tự nhiên của khái niệm cơ sở dữ liệu từ trừu tượng đến cụ thể, đó là quá trình phát triển: khung nhìn của mỗi người dùng – kiểu entity – kiểu relationship – thuộc tính entity – thuộc tính relationship – miền giá trị mỗi thuộc tính – … – các quy tắc truy nhập cơ sở dữ liệu – hệ thống cơ sở dữ liệu vận hành trên thực tế.

Quy trình này tương tự quá trình phát triển tự nhiên của một trái cây: mầm – chồi – cành – lá – nụ – hoa – quả.

Kỹ năng nghề nghiệp của một người được tích lũy qua thời gian bằng cách chiếm lĩnh dần các khái niệm trung gian trên quy trình: khung nhìn của mỗi người dùng, kiểu entity, kiểu relationship, thuộc tính entity, thuộc tính relationship, miền giá trị mỗi thuộc tính, … , các quy tắc truy nhập cơ sở dữ liệu. Để rồi cuối cùng khi chiếm lĩnh được khái niệm cơ sở dữ liệu thì cũng chính là lúc có được cơ sở dữ liệu vận hành trên thực tế. Từ “chiếm lĩnh” được dùng suốt trong loạt bài này có ý nghĩa: chiếm lĩnh được một khái niệm là tự mình làm ra được cái đối tượng mà khái niệm ấy chỉ ra theo đúng quy trình phát triển tự nhiên của đối tượng.

Quy trình làm ra sản phẩmkỹ năng nghề nghiệp tương ứng hợp lại thành cái được gọi là giải pháp nghiệp vụ của một nghề. Giải pháp nghiệp vụ là cái hạt nhân logic của công nghệ cần phải được đưa đến cho bất cứ ai muốn có nghề và làm nghề. Giải pháp nghiệp vụ được bổ sung công cụ, thiết bị thì trở thành công nghệ.

Ai biết tiếng Việt cũng có thể đọc được quy trình làm cơ sở dữ liệu trên, nhưng hiểu được nó để thực thi được nó thì phải có kỹ năng nghề nghiệp tương ứng – nghĩa là được đào tạo thích hợp trong ngành công nghệ thông tin. Nếu được đào tạo về công nghệ thông tin chỉ để, nói theo cách chung nhất, là trang bị tri thức, chứ không phải là đưa đến cho người học quy trình làm ra một sản phẩm nào đó thì những tri thức đó cũng chỉ để biết vậy thôi và người học sẽ quên chúng rất nhanh.

Nói chuyện riêng một chút. Cách đây 10 năm tôi học tại một trường đại học kỹ thuật, ngành công nghệ thông tin, tình trạng đào tạo đúng là như vậy. Những khái niệm được học như khung nhìn, entity, relationship, relation, chuẩn hóa, … vừa thiếu so với yêu cầu làm việc thực tế, vừa rời rạc vì không biết dùng những tri thức ấy làm gì (ấy là nhận thức của tôi lúc đó), vừa nặng nề so với yêu cầu thực tế. Sự nặng nề thể hiện ở chỗ khi học về khái niệm chuẩn hóa, sinh viên phải học một loạt định lý toán học chứng minh tính đúng đắn của việc chuẩn hóa. Tôi nghĩ, những tri thức này sinh viên kỹ thuật không cần học, sinh viên kỹ thuật chỉ cần học thuật toán chuẩn hóa là đủ để làm việc sau này, sinh viên chỉ cần biết tính đúng đắn đó đã được đảm bảo bởi các nghiên cứu khoa học từ trước rồi. Sinh viên những trường đại học đào tạo người làm nghiên cứu mới cần học những tri thức lý thuyết sâu đó.

Có vẻ như nhiều trường đại học kỹ thuật không hình dung được những kỹ sư được đào tạo ra sẽ làm ra sản phẩm gì, vì vậy người học không được học về quy trình gì hết. Trong khi quy trình chính là cái kết nối những tri thức rời rạc thành một tổng thể toàn vẹn nhằm đáp ứng cho một mục đích cụ thể – một sản phẩm cần làm ra.

(Còn nữa)

18/10/2009

Để lại bình luận

Filed under Các bài viết

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s